Chè Ba Vì “thắng lớn” nhờ bí kíp chăm sóc đặc biệt
|
Bài liên quan
Diện mạo nông thôn Hà nội thay đổi nhờ chương trình Nông thôn mới
Chè ngon nhờ loại phân bón lá đặc biệt
Ba Vì nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, diện tích khoảng 424km2, với thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là phát triển ngành chè.
Thực vậy, Ba Vì ngút ngàn những đồi chè xanh với 1.660 ha trồng các giống chè trung du lá nhỏ, chè PH1, thậm chí một số chè nhập như Ô Long, Kim Tuyên mới được trồng cũng đã tỏ ra có nhiều ưu điểm khi phát triển trên vùng đất này. Theo lời ông Hà Xuân Hưng, Chủ tịch UBND Huyện Ba Vì, chè Ba Vì được chế biến hoàn toàn từ búp chè tươi thu hái tại các vườn đồi, nơi có vùng đất tơi xốp, dễ thoát nước và phân bố dưới độ cao 100m, độ PH – 4 – 5,5, tầng dày 70cm, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây chè. Giống chè được trồng nhiều là giống chè trung du lá nhỏ, chè Ô Long, Kim Tuyên chất lượng cao với các tiêu chuẩn khắt khe về nguồn nước, phân bón và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Năng suất thu hoạch chè bình quân đạt 9 tấn/ha, tổng sản lượng chè búp tươi là 15.700 tấn. Một số chè trung du lá nhỏ nếu thâm canh tốt còn đạt 10 tấn/ha, chè PH1 đạt 22 tấn/ha.
Hiện Ba Vì có tới 6 nhà máy chế biến chè như Nhà máy chè Đại Hưng, Thái Hà, Á Châu, Chính Nhân… và hàng trăm cơ sở nhỏ lẻ khác chế biến chè. Chè Ba Vì thành phẩm được chế biến trên dây chuyền công nghệ hiện đại, đảm bảo đậm hương và ngọt hậu, sản phẩm chính là chè xanh, chè đen, các loại chè ướp hương. Theo số liệu mới nhất, tổng sản lượng chè năm 2009 của Ba Vì là khoảng 3.000 tấn, trong đó lượng chè xuất khẩu chiếm từ 50–60% đi các nước Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Anh, Trung Đông, Pakistan, Afganistan, giá trị xuất khẩu ước đạt trên 5 triệu USD, mang lại thu nhập ổn định cho hơn 10.000 người lao động trong huyện, góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân, đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày càng lớn.
|
Anh Phùng Minh Thuần ở thôn 4, xã Ba Trại (Ba Vì, Hà Nội) “bật mí”, chè Ba Vì thơm ngon là do dùng phân bón lá “tự chế”. Đó là loại phân bón lá được làm rất cầu kì từ trứng, đậu tương để lâu ngày kết hợp với mật ong. Loại phân bón lá đó là một bí quyết ít người biết đến nhưng nó lại giúp chè phát triển tốt hơn, tạo ra dư vị rất tinh tế trong một số sản phẩm chè Ba Vì.
Theo anh Thuần, bí quyết làm tăng chất lượng của chè từ mật ong, đỗ tương và trứng đã được lưu truyền qua mấy đời trồng chè. Anh bồi hồi nhớ lại, trước khi ông bà mất luôn dặn lại con cháu cách chăm sóc làm sao cho chè đạt được hương vị tinh tế nhất, đậm đà nhất và anh chỉ làm theo lời dặn của ông bà.
Tuy nhiên, có người lại cho rằng, bí quyết tạo ra chất lượng chè tuyệt hảo này mới xuất hiện mấy chục năm nay, bắt đầu từ những năm 1980 – 1991 khi một công ty chè của Đài Loan (Trung Quốc) đến mở công ty chế biến chè xuất khẩu. Lúc đó công ty này đã hợp tác với người dân Ba Vì để sản xuất chè Ô Long chất lượng cao.
Trong quá trình sản xuất, công ty đã đem đỗ tương ngâm lâu ngày sau đó xay nhuyễn rồi trộn với trứng gà, mật ong để tạo ra phân bón lá cho chè Ô Long. Khi công ty này giải thể, những người dân từng liên kết với nhà máy chè đã học được cách pha chế và sử dụng thuốc bón lá tự chế để tạo ra hương vị đặc biệt cho chè.
Mặc dù tranh cãi về nguồn gốc của bí quyết đặc biệt này còn chưa ngã ngũ, nhưng người dân một số xã ở Ba Vì đã biết vận dụng vào sản xuất để tạo nên một nét tinh tế, thú vị cho chè Ba Vì.
Khẳng định thương hiệu
Chị Doãn Thị Thúy ở thôn 4 xã Ba Trại thì loại phân bón lá chè này làm rất cầu kì: “Muốn có được loại phân bón lá cho chè cần phải ngâm đỗ tương từ 10 ngày trở lên để đỗ tương càng nhũn ra càng tốt. Khi đậu tương nhũn thì vớt ra nghiền nhỏ trộn với trứng gà để lâu ngày. Mỗi bình 18 lít nước phải trộn 3 – 4 quả trứng với 3 lạng đỗ tương. Sau khi cho đỗ tương và trứng vào bình mới đổ mật ong vào sau, theo kinh nghiệm dân gian thì mỗi bình phải đổ 1 – 2 cốc mật ong loại tốt. Do đó, chi phí để làm phân bón lá không tốn kém lắm, một héc ta chè chỉ cần chi phí khoảng 200 nghìn tiền phân bón lá”.
|
Không chỉ cầu kì trong khâu làm phân bón lá riêng biệt, đến khi thu hoạch, chè phải được hái theo nguyên tắc “một tôm hai tép” (hái ngọn chè 2 lá nhỏ một lá to). Chè hái xong thì đem về phơi trong bóng râm cho đến khi chè héo lại rồi mới đưa vào lò sấy. Tuy nhiên do việc làm bón phân tốn thời gian và phải trải qua nhiều công đoạn nên chỉ còn một số ít hộ dân sử dụng phương pháp này để nâng cao chất lượng cho sản phẩm chè.
Ông Nguyễn Huy Hùng, Chủ tịch Hội nông dân xã Ba Trại cho biết, thời gian tới, ngoài việc vận động người dân tuân thủ các biện pháp nâng cao chất lượng chè, địa phương còn triển khai mô hình du lịch nông nghiệp để khách thập phương đến các vườn chè ở địa phương tham quan, nghỉ ngơi nhằm quảng bá chè Ba Vì đến bạn bè trong nước và thế giới và giúp người dân có thêm thu nhập.
Cây chè đang trở thành cây trồng xóa đói giảm nghèo, đưa lại nguồn thu nhập chính cho nông dân tại xã miền núi Ba Trại. Chính vì vậy, người trồng chè cần xác định muốn giữ được thương hiệu chè trên thị trường thì bản thân họ phải đầu tư và làm ra được sản phẩm sạch như: Việc chọn giống, phân bón, chăm sóc, hái và chế biến... Đi đôi với quy hoạch mở rộng vùng nguyên liệu, huyện Ba Vì đang khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu cũng như công nghệ chế biến chè thương phẩm.
Thương hiệu chè Ba Vì được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp quyết định chứng nhận ngày 1/10/2010. Năm 2015, Hà Nội đ ã xây dựng vùng sản xuất chè với diện tích 3.000ha gồm các vùng Ba Trại, Vân Hòa, Minh Quang- Khánh Thượng. Các giống chè chất lượng thấp sẽ được thay bằng giống có chất lượng cao như: Ô Long, Kim Tuyên...
Tin liên quan
Cùng chuyên mục
Đọc thêm
Xã hội
Hà Nội: Chạy nước rút chuẩn bị cho ngày hội toàn dân
Đô thị
Lĩnh Nam chốt mốc thời gian xử lý kho, xưởng vi phạm đất công
Xã hội
LG Electronics Việt Nam khởi động chương trình “Đại sứ cộng đồng LG” 2026
Giải phóng mặt bằng
Vận động "xuyên đêm", người dân tự nguyện bàn giao mặt bằng dự án trọng điểm
BHXH & Đời sống
Dệt "lưới an sinh" vững chắc cho người lao động tự do
Xã hội
Các xã, phường ngoại thành Hà Nội nghiêm túc học tập quán triệt các nghị quyết của Bộ Chính trị
Xã hội
Bài 3: Không để mùa Xuân là “khoảng lặng” của phát triển
Đô thị
Dấu ấn "công viên mở" - Xóa bỏ rào cản, kết nối lòng người
Xã hội
Có một Hà Nội “rất khác” trong mắt người dân và du khách
Môi trường


