Những mối tình Tây Tiến
| 70 năm Trung đoàn 52 Tây Tiến oai hùng Xếp hạng di tích quốc gia Địa điểm lưu niệm Trung đoàn Tây Tiến Ra mắt tập di cảo – hồi ký “Đoàn binh Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng |
Từ cuối năm 1945, đã có những đơn vị vũ trang của ta tiến xa về phía Tây, sang tận Lào giải phóng thị xã Sầm Nưa. Người ta gọi nôm na giai đoạn cuối năm 1945, và năm 1946 là Tây Tiến 1. Khu Tây Tiến và Mặt trận Tây Tiến chính thức được Bộ Tổng Tư lệnh thành lập đầu năm 1947, bao trùm lên các tỉnh Lai Châu (gồm cả Điện Biên), Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, phía Tây Bắc Thanh Hóa và cả một số vùng lân cận của Lào như Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Sê Pôn.
Đây là khu vực mang ý nghĩa chiến lược vì nếu chiếm được, giặc Pháp sẽ cắt đứt con đường nối chiến khu Việt Bắc với các tỉnh tự do Thanh Hóa, Nghệ An, chặn được đường sang Lào. Tức chúng cắt rời được đầu não kháng chiến với các vùng khác của đất nước và sẽ thành lập chính quyền và lực lượng tay sai người bản địa với cái gọi là “Xứ Mường tự trị”, “Xứ Thái tự trị” để chống phá cách mạng cực kỳ nguy hiểm.
![]() |
| Năm nữ y tá chụp ảnh kỷ niệm trước khi lên đường Tây Tiến đầu năm 1947 |
Hàng nghìn chàng trai, cô gái một số tỉnh Miền Bắc, giai đoạn đầu phần đông là người Hà Nội và đã lên đường làm nhiệm vụ đặc biệt này. Các chiến sĩ Tây Tiến chịu vô vàn gian khổ, hy sinh nhưng đã sống, chiến đấu với khí thế kiêu dũng, hào hùng như nhà thơ Quang Dũng đã ghi lại rất tài hoa trong bài thơ Tây Tiến. Các chiến binh Tây Tiến để lại nhiều câu chuyện như huyền thoại, trong đó có những câu chuyện tình yêu mà tôi tổng hợp dưới đây từ hồi ức của rất nhiều cựu binh Tây Tiến in trong cuốn “Tây Tiến một thời và mãi mãi” (NXB Hà Nội, 2009).
Tình yêu kết trái thời gian khó
Khi 5 nữ y tá của Quân khu III đóng ở Tông, Sơn Tây được điều đi mặt trận Tây Tiến, họ đã rủ nhau ra Sơn Tây chụp một kiểu ảnh. Đó là các chị Lê Thị Thành (sau này được gọi là Thanh Huyền), Kiều Thanh Thôn, Ngọc Minh, Ngọc Bé và Dương Thuý Liên (sau gọi là Tú Hằng). Họ cùng ba người nữa là các y, bác sĩ Đặng Nguyên Đức, Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Văn Kỷ lập nên Ban Quân y đầu tiên của Mặt trận Miền Tây.
Kiều Thanh Thôn là người đầu tiên trong năm nữ y tá đi lấy chồng. Khi bệnh xá Quân y chuyển về đóng ở Mường Vó, huyện Lạc Sơn, đám cưới của chị và y tá Nguyễn Văn Kỷ được tổ chức. Chính uỷ Trung đoàn Hùng Thanh đã tuyên bố thành hôn cho hai người. Đó là đám cưới rất vui trong gian khó khi đầy lời ca tiếng hát của các đồng đội, trong đó có nhà thơ Quang Dũng, người hát tặng đôi vợ chồng son bài “Ba Vì mờ cao” cho chính ông sáng tác. Vợ chồng chị Thôn, anh Kỷ sinh được ba người con thì anh bị bệnh mất. Chị đảm đang nuôi mẹ chồng mù loà và ba con thơ dại ở Bệnh viện Khu III. Sau đó, chị chuyển công tác về Viện Quân y 103 rồi Bệnh viện Trng ương Quân đội 108 cho đến khi nghỉ hưu.
Bác sĩ Đoàn Nguyên Đức thầm yêu chị Thanh Huyền nhưng mãi không dám thổ lộ. Thậm chí khi anh Hảo được trên cử xuống làm cán bộ chính trị bệnh xá, biết mối tình thầm kín của bác sĩ Đức nên đùa dai vờ “cưa” chị Thanh Huyền nhưng bác sĩ Đức vẫn không nói gì. Tháng 3 năm 1948, bác sĩ Đức và chị Thanh Huyền được Trung đoàn cử đi tìm địa điểm thành lập một ban quân y mới cho y tế Liên khu III.
Trên đường đi, không may họ bị máy bay địch nã đạn, một viên đạn trúng lưng làm bác sĩ Đức hy sinh. Địch đang đổ lính dù xuống để vây bắt các cán bộ nên chị Huyền không kịp chôn cất; thậm chí không kịp khóc thương người thầy đã dạy chuyên môn cho mình đồng thời là là một người yêu không biết ngỏ lời. Chị chỉ kịp kiểm tra vết thương, ghé sát anh để nghe một lời trăng trối nhưng thấy bác sĩ đã hy sinh nên vuốt mắt cho anh và khoác lấy túi tài liệu của anh rồi chạy đi.
![]() |
| Tác phẩm “Trên chặng đường chiến dịch” của Nguyễn Thanh Châu |
Sau này, chị Thanh Huyền gặp và yêu anh Phạm Văn Phú là Bệnh xá trưởng của Xưởng Quân giới Minh Phú và đám cưới hai người được tổ chức tại quân y viện Trung đoàn Tây Tiến. Cả hai anh chị sau đó đều được điều động lên Việt Bắc. Chị Thanh Huyền tham gia phục vụ nhiều trận đánh và chiến dịch từ Cao Bằng, Bắc Kạn cho đến Hòa Bình và sinh hai con gái trước khi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng.
Hòa bình lập lại ở Miền Bắc, chị xin chuyển ngành đi học Sư phạm rồi về làm giáo viên ở Bắc Ninh quê chồng. Anh Phú cũng chuyển ngành về ngân hàng tỉnh. Hai anh chị đã phải vừa làm công việc chính, vừa làm thêm để nuôi chín đứa con trong thời bao cấp… Khi nghỉ hưu, hai người vẫn tích cực tham gia các công tác địa phương, được bầu làm đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố Bắc Ninh, Hội thẩm Nhân dân ở tòa án và tham gia tích cực các hội Cựu Chiến binh, hội cựu giáo chức…
Người ta có ít thông tin về chị Tú Hằng, chỉ biết sau này chị sang Canada sống với con. Buồn nhất là trường hợp xảy ra với với y tá Ngọc Minh. Chị lập gia đình với anh Nguyễn Đình Thọ, cũng là một trong mấy người đã cùng nhau lên đường thuở ban đầu để lập nên ban Quân y Tây Tiến. Khi có con, chị phải gửi cháu bé cho một người ở Vân Đình để tiếp tục công tác. Sau này chị nhiều lần trở lại Vân Đình nhưng không tìm được tung tích của con.
Chuyện tình lãng mạn của Đại đội trưởng Như Trang
Đại đội trưởng Như Trang, cựu học sinh trường Bưởi, một chiến binh dũng mãnh nổi dang từ cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội khi đi Tây Tiến đã chọn Lê Hùng Lâm - chú bé nhỏ nhất đại đội làm liên lạc viên. Nhiều lúc, Lâm cảm thấy anh Trang nhìn mình thẫn thờ như nhìn một người khác. Anh còn bảo cậu ngồi làm mẫu cho anh vẽ.
Anh vẽ hàng chục, hàng trăm lần nhưng cứ đến đôi mắt lại không hài lòng, vẽ đi vẽ lại. Một hôm, tiểu đội trưởng Phúc vốn là bạn cùng trường Thăng Long với Như Trang lên chơi, nói: “Chỉ tao biết vì sao mày chọn cu Lâm làm liên lạc viên. Nó có đôi mắt giống con Tuyết thế!”.
![]() |
| Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Đại đội trưởng Như Trang |
Hồi còn đóng quân ở Hà Nội, họ nghe nói có đứa con gái đẹp đứng bán sách ở phố Bà Triệu, họ liền rủ nhau đi ngắm thì chứng kiến tài đối đáp của cô. Khi hai thanh niên đến hỏi: “Cô có Làm đĩ không?”, cô đáp: “Không, chỉ có Hai thằng khốn nạn”. Đó là tên hai cuốn tiểu thuyết đang bán chạy ("Làm đĩ" là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Vũ Trọng Phụng; "Hai thằng khốn nạn" là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Công Hoan). Cũng từ đó, Phúc và Như Trang thường đến chỗ cô bán sách.
Tuyết yêu Như Trang vì anh cao lớn, đẹp trai. Lúc đầu, họ viết thư. Như Trang nhờ cô giới thiệu nếu có sách gì hay. Không ngờ Tuyết lại giới thiệu cuốn “Triết học Kăng” vừa ra. Rồi cô bình luận cả về các nhà văn, triết gia Pháp Russo, Montesquieu. Rồi thư từ chuyển dần từ triết lý qua tình yêu. Hôm Như Trang cùng đồng đội chống trả địch ở Vĩnh Tuy, hoả lực địch rất ác liệt, địch bắn pháo và moochie, chiến lũy của ta bị vỡ, Như Trang về hầm chỉ huy thì thấy Tuyết. Cô nói gia đình đã đi tản cư rồi, cô trở lại làm cứu thương. Đại đội anh Trang nổi danh cả mặt trận Thủ đô nên cô tìm đến được. Giữa mặt trận, họ đã thề gắn bó trọn đời, đến ngày chiến thắng sẽ cưới. Rồi Như Trang đi Tây Tiến và họ bặt tin nhau.
Tuyết thường mặc áo dài tím. Khi đến chiến lũy Vĩnh Tuy trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô, cô cũng mặc áo tím. Nên một dịp trú quân ở Mường Phùng, khi đại đội trưởng Như Trang đi qua, mấy cô gái Lào gọi trêu rồi đẩy một cô mặc áo tím xinh nhất ra, thái độ của Như Trang phấn khởi rất lạ. Đến hôm hội té nước, cán bộ chiến sĩ khi bị té đều cười và chạy ra xa để không bị ướt hết, riêng khi cô áo tím đến té, Như Trang đứng im và tối đó về lên cơn sốt vì nhiễm lạnh.
Trong trận đánh ở Mường Lồ, Nha Trang chỉ huy đại đội chiến đấu rất anh dũng bị thương nặng. Khi được Lâm cõng ra bờ suối, anh thều thào nói: “Nếu anh có sao, chú tìm gặp chị Tuyết nói là chị vẫn luôn bên anh”. Do trận chiến đấu đó, anh được thưởng huân chương và khi bình phục thì được nghỉ phép 10 ngày. Anh về đưa bố mẹ đi tìm bố mẹ Tuyết ở nơi tản cư, xin đính hôn. Hai gia đình đều là nhà giáo theo kháng chiến. Đêm đó, trên con thuyền trên sông, hai ống bố đọc thơ, hai bà mẹ chăm lo thức nhắm còn đôi trai gái tự tình. Một cản tượng thơ mộng, hạnh phúc ngay trong những ngày gian khó.
Như Trang hy sinh trong một trận đánh khi dẫn một nhóm chiến sĩ đi trinh sát. Địch vây chặt, quyết bắt anh. Anh đã chiến đấu đến cùng và viên đạn cuối dành cho mình. Chuyện kể rằng, khi trận đánh kết thúc, tên quan hai Pháp đã đứng ngả mũ, nghiêng mình trước xác anh. Lâm nhớ lại khi lau khẩu Côn Bát, bao giờ anh Trang cũng lau rất kỹ viên đạn cuối. Sau này, Như Trang được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
![]() |
| Tiểu đoàn trưởng Tuấn Sơn (trái) và Đại đội trưởng Như Trang (phải) |
Từ khi anh Như Trang hy sinh, hành quân chiến đấu đến đâu, Lâm cũng chú ý tìm chị Tuyết. Một lần hành quân qua Thanh Cù dừng nghỉ, ghé vào quán nước bên đường, Lâm nghe bà cụ chủ quán chép miệng nói: “Thương cô giáo quá! Trẻ đẹp thế mà cứ mang mãi khăn tang. Chồng đã cưới đâu mà cứ về chăm sóc bố mẹ chồng, nuôi dạy đàn em chồng như ruột thịt”. Rồi Lâm nghe cô giáo đang ở hiệu ảnh Như Trang ở cuối phố. Nghe đến tên Như Trang, Lâm bỏ bát nước, chạy vượt hàng quân đến hiệu ảnh. Vừa thấy cô gái áo tím với vành khăn tang đang nồi bóc sắn giữa mấy đưa em nhỏ, Lâm gọi: “Chị ơi, chị là chị Tuyết phải không?”. Người con gái ngước mắt nhìn lên, Lâm sững người: đây là đôi mắt mà anh Trang vẽ mãi!
Tuyết cũng đoán ngay ra đây là Lâm, người liên lạc thân thiết mà người yêu mình từng kể. Chị muốn Lâm vào kể cho nghe chuyện về anh Trang nhưng Lâm đang trong đội hình hành quân không ở lại được. Rất tiếc là trong bài viết của mình, cựu chiến binh Lê Hùng Lâm không kể sau này có gặp lại chị Tuyết không.
Đủ cho một tiểu thuyết
Dịp kỷ niệm 50 năm Tây Tiến (1947 - 1997), chuyện con gái của tiểu đoàn trưởng Tây Tiến Tuấn Sơn từ nước ngoài trở về viếng mộ bố làm các cựu binh Tây Tiến và nhiều người bất ngờ và xúc động. Bất ngờ vì suốt thời gian chỉ huy đại đội rồi tiểu đoàn trong Tây Tiến cho đến lúc hy sinh mới 25 tuổi, có ai thấy anh yêu đương hay vợ con gì đâu.
Dịp 50 năm ấy, đồng đội mới tìm thấy mộ Tuấn Sơn. Anh đã sống, chiến đấu như một người anh hùng một thời nên nghi lễ rất long trọng, nhiều quan chức tới dự. Khi biết có người phụ nữ đến để nhận mộ cha, trưởng ban tổ chức buổi lễ đã từ chối vì lý lịch của Tuấn Sơn không ghi có vợ con. Gia đình và đồng đội Tuấn Sơn phải tỏ thái độ thì Ban Tổ chức mới đồng ý cho người phụ nữ đứng chịu tang.
Năm mươi năm trước, mẹ chị là một cô hàng cà phê ngon ở một phố thị có đông người tản cư ở vùng còn tự do gần Hà Nội. Với đôi mắt một mí đẹp và làn da trắng mịn, lại khéo chiều khách, cô được các chiến sĩ bộ đội gọi là cô gái Nhật. Rất nhiều người mê cô, nhưng cô chọn Tuấn Sơn, một người rất xứng đáng. Anh là một chỉ huy can trường của quân Tây Tiến, đã chỉ huy nhiều trận đánh từ Tây Bắc Thanh Hóa cho đến Lào, Hoà Bình, Sơn La…
Quan hệ của họ nồng nàn nhất là khi anh vừa khỏi vết thương ghé qua quán cô trước khi trở lại Mặt trận Hoà Bình. Khi biết mình có thai hai tháng, cô rất sung sướng nhưng giữ kín chuyện vì sợ ảnh hưởng đến uy tín của anh. Để sinh con, cô rời vùng tự do, về Hà Nội với gia đình. Cô sinh con cũng là lúc Tuấn Sơn hy sinh trên đường số 6.
![]() |
| Tiểu đoàn trưởng Tây Tiến Tuấn Sơn |
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cô bế con về chào bố mẹ anh. Là một người gia giáo, bố của anh không nhận vì ông nghĩ anh là một chỉ huy mẫu mực, không thể có con ngoài giá thú được. Vả chăng, đồng đội Tuấn Sơn tới thăm gia đình nhiều nhưng ông chưa từng nghe ai nói Tuấn Sơn có con. Riêng bà mẹ Tuấn Sơn nhìn đứa bé kêu lên là nó giống con mình như đúc và đòi nhận cháu, nuôi cháu nhưng cô thắp nén hương trên bàn thờ anh rồi gạt nước mắt bế con ra đi.
Số phận đã khiến cô phiêu dạt ra nước ngoài. Và 50 năm sau, đứa con kết quả tình yêu của hai người đã trở về để đứng đội khăn tang khi mộ cha được tìm thấy.
Một điều thú vị và có giai thoại văn học cho rằng cô hàng cà phê này từng là người yêu của nhà thơ Quang Dũng và là nàng thơ tuyệt tác “Mắt người Sơn Tây” của thi sĩ.
Giai thoại kể rằng khoảng năm 1947, trước khi lên đường đi Tây Tiến, đơn vị của Quang Dũng có qua và đóng lại một thời gian ở vùng Chợ Đại - Cống Thần, Hà Đông, bên bờ sông Đáy. Đây là vùng tự do sát nách Hà Nội bị tạm chiếm. Ở đó có cô hàng cà phê tên là Nhật, được mọi người đặt cho một cái tên Nhật là Akemi, là một cô gái rất xinh đẹp. Cô trở thành nàng thơ, người trong mộng không chỉ của Quang Dũng mà rất nhiều anh tài kháng chiến qua lại nơi này thời đó.
![]() |
| Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến |
Quang Dũng rất mê người đẹp nên từng rút bút đề thơ lên vách quán của cô: “Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền / Khuấy nước kênh Đào sóng nổi lên / Ý nhị mẹ cười sau nếp áo / Non sông cùng đắm giấc mơ tiên”. Sau này, Akemi bỏ kháng chiến vào thành, nên ở ngoài này Quang Dũng nhớ thương mới viết bài “Đôi bờ” có những câu: “Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự / Kinh thành em có nhớ bên tê?” để hướng về người cũ giờ đã ở trong đất kinh kỳ. Rằng sau Quang Dũng về Hà Nội có đi tìm Akemi nhưng không thấy vì cô vào Nam rồi sang Mỹ. Khi đã ở tuổi xế chiều, Akemi mới cung cấp cho ai đó mấy câu thơ Quang Dũng đề vách quán ngày nào.
Tuy nhiên, khi tôi đem chuyện này ra hỏi gia đình của nhà thơ Quang Dũng thì họ khẳng định không hề có mối tình nào như vậy cả. Câu chuyện tình yêu của người anh hùng Tuấn Sơn trên đây khẳng định điều này.
Tin liên quan
Đọc thêm
Xã hội
Phường Đại Mỗ vươn mình kiến tạo thế và lực mới nơi cửa ngõ phía Tây Thủ đô
Xã hội
Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn, tặng quà công nhân vệ sinh môi trường tại Thủ đô
Muôn mặt cuộc sống
Mùa “Tết ấm” về giữa lòng Hà Nội
Xã hội
Kiến tạo kỳ tích Sông Hồng: Từ dòng chảy lịch sử đến tầm vóc tương lai
Xã hội
Tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành, đưa vào sử dụng
Muôn mặt cuộc sống
Gala "Việc tử tế" giương cao ba ngọn cờ tự hào của người Việt
Xã hội
Camera an ninh trật tự giữ bình yên cho Thủ đô trong ngày Tết
Muôn mặt cuộc sống
Chuyện tặng quà thời hiện đại: Khi sự tinh tế đi cùng giải pháp "thấu hiểu"
Muôn mặt cuộc sống
Quảng Ninh khai mạc Hội sách, báo Xuân Bính Ngọ 2026
Xã hội








