Kỳ 1: Loạt sai phạm nghiêm trọng của TISCO tại dự án gang thép hơn 8.000 tỷ đồng
![]() |
Công ty Gang thép Thái Nguyên.
Bài liên quan
Lùm xùm sai phạm, ''soi'' tình hình kinh doanh của Gang thép Thái Nguyên
Cơ hội sở hữu căn hộ cao cấp tại Khu đô thị TBCO RIVERSIDE Thái Nguyên
12 dự án nghìn tỉ “đắp chiếu” đã có biến chuyển
Ngày 20/2/2019, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Bùi Ngọc Lam đã ban hành Thông báo Kết luận thanh tra Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên.
Kết luận thanh tra nêu rõ, Dự án cải tạo mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên (Dự án) được Thủ tướng phê duyệt chủ trương đầu tư (Văn bản số 342/TTg-CN ngày 05/4/2005); giao Tổng Công ty Thép Việt Nam (VNS) tổ chức thẩm định, xem xét phê duyệt; Công ty Gang thép Thái Nguyên (TISCO) là Chủ đầu tư. Tổng mức đầu tư (TMĐT) được Hội đồng Quản trị (HĐQT) VNS phê duyệt tại Quyết định số 684/QĐ-ĐT ngày 05/10/2005 là 3.843 tỷ đồng (242,5 triệu USD). Dự án gồm 02 gói thầu chính: (1) Gói thầu mỏ sắt Tiến Bộ đã hoàn thành đưa vào sử dụng với giá trị thanh toán là 224.057 triệu đồng; (2) Gói thầu EPC Dây chuyền công nghệ luyện kim (143 triệu USD, sau là 160,9 triệu USD) đấu thầu rộng rãi; Tập đoàn xây lắp luyện kim Trung Quốc (MCC) trúng thầu với giá 160,9 triệu USD.
Ngày 12/7/2007, Hợp đồng số 01#EPC/TISCO-MCC được ký giữa Bên giao thầu (Bên A) là TISCO và Bên nhận thầu EPC (Bên B) là Công ty Tập đoàn xây lắp luyện kim Trung Quốc (MCC), cam kết tại Điều 9 “giá hợp đồng tổng thầu EPC là 160.888.887 USD. Giá hợp đồng này là giá trọn gói không thay dổi trong suốt quá trình thực hiện Hợp đồng và đã bao gồm các loại thuế được xác định trong Hợp đồng, các chi phí cần thiết để thực hiện Hợp đồng theo phương thức Tổng thầu EPC”; trong đó, giá trị Phần E (tư vấn, thiết kế) là 3.145.572 USD, Phần P (thiết bị) là 114.813.414 USD, Phần C (xây dựng và lắp đặt) là 42.929.901 USD, thời gian thực hiện hợp đồng là 30 tháng (hợp đồng có hiệu lực từ ngày 03/9/2007). Sau ký hợp đồng, MCC đã được tạm ứng 35,6 triệu USD; trong quá trình thực hiện Hợp đồng, TISCO và MCC ký 10 Phụ lục điều chỉnh nhiều nội dung quan trọng của Hợp đồng EPC đã ký.
![]() |
Thanh tra Chính phủ chỉ rõ loạt sai phạm nghiêm trọng của TISCO tại dự án Gang thép Thái Nguyên. |
Ngày 15/5/2013, Chủ tịch HĐQT TISCO ký Quyết định số 489/QĐ-GTTN phê duyệt điều chỉnh TMĐT Dự án là 8.104.907,173 triệu đồng (tăng 4.261.000 triệu đồng), thời gian thực hiện đến hết năm 2014 đi vào hoạt động. Thực tế, Gói thầu EPC đã tạm dừng thi công từ năm 2013 đến nay, các hạng mục đều chưa hoàn thành. Chủ trương đầu tư Dự án là phù hợp với yêu cầu thực tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác quặng, sản xuất thép, ổn định việc làm, tăng thu nhập cho gần 5.000 cán bộ, công nhân viên.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện Dự án, TISCO, MCC, VNS, Bộ Công Thương, các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan đã có những khuyết điểm, sai phạm: đến thời điểm thanh tra, tổng giá trị TISCO đã thanh toán cho Dự án là 4.421.522 triệu đồng; tổng dự nợ gốc, lãi vay ngân hàng phải trả là 3.896.838 triệu đồng (hiện lãi vay phải trả trên 40 tỷ đồng/tháng), trong đó thanh toán cho MCC trên 92% giá trị hợp đồng (Phần E là 2,9 triệu USD/3,1 triệu USD, 92,77%; Phần P 106,6 triệu USD/114,8 triệu USD 92,89%) nhưng các hạng mục của Dự án đều chưa hoàn thành, đến năm 2013 MCC và các nhà thầu đã dừng thi công; TISCO đã thanh toán thay MCC tiền thuế là 11,6 triệu USD, thanh toán chi phí xếp dỡ, bảo quản thiết bị là 4,737 tỷ đồng, vượt giá trị hợp đồng, trong khi MCC chưa chuyển đủ thiết bị, cung cấp nhiều máy móc thiết bị sai khác về xuất xứ, thông số kỹ thuật, không phù hợp với quy chuẩn Việt Nam với giá trị xác định bước đầu là 38,8 triệu USD (42 xe ô tô là 1,033 triệu USD, 5 đầu máy toa xe là 5,4 triệu USD...).
Tại Kết luận thanh tra, ngoài những ưu điểm, Thanh tra Chính phủ cũng đã chỉ rõ những tồn tại, khuyết điểm, vi phạm phát hiện qua thanh tra. Theo đó, Thanh tra Chính phủ cho biết, hiện một số thiết bị đã rỉ sét, hư hỏng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng Dự án, thiệt hại vốn đầu tư, trong đó, trách nhiệm chính về những khuyết điểm, sai phạm thuộc TISCO.
Cụ thể, TISCO đã lập Báo cáo NCTKT chưa đầy đủ cơ sở trình VNS, Bộ Công Thương và Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời thành lập Ban Quản lý Dự án (QLDA) không đủ năng lực; phê duyệt và điều chỉnh TKCS không đúng thẩm quyền; lựa chọn tư vấn lập Báo cáo NCKT không đúng quy định; trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt Báo cáo NCKT và thẩm định, quyết định phê duyệt điều chỉnh cơ cấu TMĐT, KHĐT nhưng không thẩm định những nội dung thay đổi, không làm rõ các nội dung điều chỉnh; bổ sung một số chi phí không có trong quyết định của VNS; không xác định chi tiết các nội dung chi phí cho công tác chạy thử. Tính chi phí quản lý dự án vượt so với quy định nhưng không làm các thủ tục điều chỉnh, bổ sung chi phí quản lý Dự án theo quy định tại điểm 1.1 Mục 1 của Quyết định số 957/QĐ-BXD.
Thanh tra Chính phủ cũng chỉ rõ, TISCO đã lập, trình xin phê duyệt KHĐT không đúng quy định tại Điều 6 Luật Đấu thầu 2005; xác định một số khoản chi phí và giá một số gói thầu không phù hợp với nội dung Báo cáo NCKT được duyệt theo quy định tại khoản 26 Điều 4 Luật Đấu thầu 2005, khoản 2 Điều 10 Nghị định số 58/2008/NĐ-CP, mục II Chương II Phần thứ 2 Thông tư số 04/2000/TT-BKH, Quyết định số 10/2005/QĐ-BXD.
Đồng thời phê duyệt Hồ sơ mời sơ tuyển gói thầu EPC số 01# không đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 24 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP; mục II Chương II (Phần 1) Thông tư số 04/2000/TT-BKH; khoản 1 mục I (Phần 3) Thông tư số 01/2004/TT-BKH; Hồ sơ mời sơ tuyển không yêu cầu nhà thầu nộp bảo lãnh dự thầu theo quy định tại khoản a Điều 24 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, TISCO cũng lập, trình xin phê duyệt Hồ sơ mời thầu giai đoạn 1 không đúng quy định tại khoản 5, 12, 15 Điều 1 Nghị định số 66/2003/NĐ-CP. Lập, trình xin phê duyệt điều chỉnh gói thầu EPC số 01# từ 143.250.000 USD lên 160.980.640 USD không đúng quy định tại khoản 26 Điều 4, khoản 4 Điều 6 Luật Đấu thầu 2005; Điều 8, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 111/2006/NĐ-CP.
Cơ quan Thanh tra cũng kết luận, TISCO cũng đánh giá Hồ sơ dự thầu giai đoạn 2 không đúng quy định tại Điều 27, 33 Nghị định số 111/2006/NĐ-CP; trình xin hủy đấu thầu không đúng quy định tại khoản 2, 4 Điều 4 Luật Đấu thầu 2005; không trình và phê duyệt danh sách nhà thầu đạt yêu cầu về kỹ thuật theo quy định tại khoản 4 Điều 61 Luật Đấu thầu 2005. Không lập, trình xin phê duyệt kế hoạch, nội dung thương thảo hoàn thiện hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 111/2006/NĐ-CP.
Ngoài ra, TISCO đã ký Hợp đồng EPC với MCC có một số nội dung không chặt chẽ: không quy định cụ thể về tiến độ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 2 mục II Phần II Thông tư số 02/2005/TT-BXD; không quy định tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định tại khoản 2 Điều 108 Luật Xây dựng 2003, danh sách nhà cung cấp và quy trình mua sắm thiết bị, tiến độ tổng thể; không phê duyệt và kiểm soát chặt chẽ tiến độ tổng thể của Dự án (chi tiết đối với từng phần công việc) theo quy định tại Điều GCC 8.3 - Chương trình tiến độ (điều kiện chung), SCC38 (điều kiện riêng) và phù hợp với tiến độ tổng thể được phê duyệt tại Quyết định số 684/QĐ-HĐQT ngày 05/10/2005 của VNS; ký các Phụ lục hợp đồng (từ Phụ lục lần 1 đến Phụ lục lần 4), ký các hợp đồng xây lắp (ba bên), trực tiếp giám sát chất lượng máy móc, thiết bị và thanh toán cho các nhà thầu phụ theo giá điều chỉnh là vi phạm quy định tại khoản 17, 31 Điều 4 Luật Đấu thầu 2005, điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định số 99/2007/NĐ-CP; điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định số 112/2009/NĐ-CP; khoản 16, 17, 21, 31, 36 Điều 4 Luật Đấu thầu 2005 và khoản 3 Điều 3 Luật Xây dựng 2003; quản lý dự án không đúng quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Xây dựng 2003, gây bất lợi cho TISCO làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng dự án; gây thất thoát vốn đầu tư, không đúng Hợp đồng EPC số 01#.
Sau 18 tháng kể từ ngày Hợp đồng có hiệu lực, MCC không thực hiện nhưng TISCO không áp dụng điều khoản phạt hợp đồng đã ký với MCC, không báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét để hủy đấu thầu lại theo quy định khi MCC đề nghị điều chỉnh hợp đồng đưa ra nhiều hạng mục không hợp lý, không có căn cứ (Văn bản số 7160/BKHĐT-KTCN ngày 01/10/2008 của Bộ KHĐT).
Cũng theo Thanh tra Chính phủ, TISCO cũng không lập dự toán mà sử dụng số liệu của VINAINCON trình VNS, các bộ, ngành và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chi phí phát sinh Phần C 15.570.099 USD không có căn cứ. Thỏa thuận gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng và hiệu lực thanh toán L/C; ký Biên bản thỏa thuận tách Phần C, chuyển một số nội dung phần việc của Phần P sang Phần C với giá trị (theo báo cáo ban đầu của TISCO là trên 50 tỷ đồng) là vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về đầu tư, Hợp đồng EPC số 01#.
Bên cạnh đó, TISCO cũng ký các Phụ lục thỏa thuận MCC chuyển cho TISCO: CO, CQ, trọn bộ đơn bảo hiểm, tiếp nhận nhiều máy móc, thiết bị không đúng quy cách chủng loại, sai khác về xuất xứ, tên nhà cung cấp, mã hiệu, thông số kỹ thuật, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Xây dựng 2003 và Hợp đồng EPC số 01#. Thẩm định, phê duyệt dự toán, tổng dự toán, thẩm tra phê duyệt TMĐT điều chỉnh không đúng quy định.
Theo Thanh tra Chính phủ, TISCO có thẩm quyền ký quyết định điều chỉnh TMĐT theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 112/2009/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc điều chỉnh TMĐT Dự án lên 8.104.907,173 triệu đồng là không có căn cứ, không đúng quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 38/2009/QH12 và khoản 1 Điều 7 Nghị định số 112/2009/NĐ-CP (không được điều chỉnh TMĐT đối với Dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước). Mặc dù, ý kiến của các bộ, ngành cho rằng không có cơ sở điều chỉnh TMĐT nhưng TISCO vẫn ký quyết định điều chỉnh TMĐT là cố ý vi phạm các quy định của pháp luật về đầu tư.
Hơn nữa, TISCO cũng phê duyệt gói thầu Mỏ sắt Tiến Bộ không đúng thẩm quyền, quyết định phê duyệt dự án không có kế hoạch nguồn vốn để thực hiện; phê duyệt TKKT và tổng dự toán, không phù hợp với TKCS đã được phê duyệt tại Quyết định số 1272/QĐ-T-CT9 ngày 02/10/2007 là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP; quyết định phê duyệt không có nội dung các bước thiết kế để làm cơ sở thực hiện và ký hợp đồng với đơn vị tư vấn thiết kế không đúng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 16 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP; phê duyệt phương án khảo sát phục vụ TKKT sơ sài vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP. Thay đổi các hạng mục số 25, 26, 27, 33 thuộc Mỏ sắt Tiến Bộ vi phạm quy định khoản c Điều 21, Điều 22 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP, Điều 48 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP.
Kết luận thanh tra cũng nêu, TISCO ký hợp đồng với Nhà thầu tư vấn lập TKKT và tổng dự toán Mỏ sắt Tiến Bộ, Nhà thầu tư vấn không giám sát tác giả trong suốt thời gian thi công, không tham gia nghiệm thu các hạng mục hoàn thành theo hồ sơ TKKT đã được TISCO phê duyệt theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP; ký hợp đồng, thanh toán cho các Nhà thầu phụ 09 hạng mục không có trong quyết định phê duyệt của Dự án vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 112/2009/NĐ–CP; ký các phụ lục bổ sung điều chỉnh tiến độ để các nhà thầu kéo dài thời gian thực hiện không đúng quy định của Hồ sơ mời thầu, chậm đưa Dự án vào hoạt động làm tăng chi phí vốn đầu tư, lãi vay.
Đồng thời, chưa thực hiện quyết toán gói thầu Mỏ sắt Tiến Bộ đã hoàn thành, đưa vào sử dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Nghị định số 112/2009/NĐ-CP. Phê duyệt TKKT và dự toán gói thầu Mỏ sắt Tiến Bộ, trong đó có 2 hạng mục Đập ngăn nước số 1 và 2 không đúng với mục a khoản 1 Điều 18 của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP. Chưa thực hiện thu hồi tiền tạm ứng hợp đồng theo chỉ đạo của Bộ Công Thương trong thời gian MCC không thực hiện hợp đồng và không phát hành Thư đòi tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng; để MCC hưởng phí quản lý Phần C trái quy định.
Cũng theo Thanh tra Chính phủ, TISCO đã thanh toán thay cho MCC thuế GTGT, thuế TNDN, thuế nhập khẩu thiết bị và chi phí tiếp nhận, bảo quản trông coi thiết bị nhưng đến nay chưa thu hồi. Thanh toán cho Nhà thầu phụ VINAINCON và các Nhà thầu Việt Nam khác theo đơn giá điều chỉnh không đúng Hợp đồng EPC 01#. Thanh toán một số khoản không đúng quy định: chi tiếp các Đoàn đàm phán hợp đồng; các Đoàn đi công tác nước ngoài; tư vấn ký hợp đồng thầu phụ; tư vấn lập định mức đơn giá; tư vấn thẩm tra TMĐT điều chỉnh; tư vấn quản lý và giám sát gói thầu. Thanh toán cho ANZ phí mở L/C, tư vấn, thu xếp vốn nhưng ANZ không giải ngân; chi phí Ban QLDA vượt quy định. Chưa xác nhận đầy đủ khối lượng, giá trị phần việc các Nhà thầu phụ thực hiện Dự án.
Theo Thanh tra Chính phủ, những vi phạm trên của TISCO có dấu hiệu cố ý làm trái các quy định của pháp luật, buông lỏng quản lý, gây thất thoát vốn đầu tư.
Ngày 20/2/2019, Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Phó thủ tướng Trương Hòa Bình, đồng ý với kết luận thanh tra toàn diện dự án cải tạo mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên. Đồng thời, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cũng yêu cầu các bộ, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Theo báo cáo tài chính quý 4/2018 của Công ty CP Gang thép Thái Nguyên (TISCO - UPCoM: TIS), doanh thu thuần quý này của TISCO đạt 2.703 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2017; lợi nhuận gộp đạt 102 tỷ đồng, tăng 16%. Mặc dù vậy, kỳ này chi phí tài chính tăng lên 62,7 tỷ đồng, tương ứng 24% so với cùng kỳ năm 2019, cộng với chi phí quản lý tăng gấp đôi khi chiếm gần 63 tỷ đồng khiến TIS lỗ thuần hơn 24 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ có lãi thuần 630 triệu đồng.
Trong quý 4/2018, nhờ ghi nhận thêm hơn 3 tỷ đồng lợi nhuận khác (cùng kỳ năm ngoái là 25,9 tỷ đồng, giảm 88%) đã kéo mức lỗ của TISCO giảm xuống còn 19 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2017 lãi với con số tương tự. Tính chung cả năm 2018, TIS ghi nhận 10.935 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 12% so năm 2017. Lợi nhuận sau thuế chỉ đạt xấp xỉ 28 tỷ đồng, giảm 71% so với năm 2017. Như vậy, TISCO chỉ thực hiện được 18% kế hoạch năm đặt ra.
Đáng nói, theo báo cáo tài chính, kết thúc năm 2018, trong khi tổng nguồn vốn của TISCO ở mức 10.577 tỷ đồng thì nợ phải trả chiếm tới 8.707 tỷ đồng, trong đó nợ ngắn hạn là 4.900 tỷ đồng và nợ dài hạn là hơn 3.800 tỷ đồng. Đáng chú ý, trong khoản nợ phải trả trên có khoản vay nợ tài chính ngắn và dài hạn lên tới 2.914 tỷ đồng và 2.803 tỷ đồng.
Đặc biệt, tính đến cuối năm 2018, nợ xấu của TISCO vẫn ở mức 651 tỷ đồng, trong đó giá trị có thể thu hồi là 393 tỷ đồng, còn lại là khó có khả năng thu hồi. Trong khoản nợ khó có khả năng thu hồi đáng chú ý có ''con nợ" là Công ty TNHH TM và DL Trung Dũng với số tiền 252 tỷ đồng.
Tin liên quan
Cùng chuyên mục
Đọc thêm

Đưa Gia Lai đến gần hơn với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư

"City sale" TP Hồ Chí Minh lần đầu tổ chức dưới lòng đất

Đưa tinh thần Nghị quyết lan tỏa mạnh mẽ đến từng chi bộ, đảng viên

VPBank hỗ trợ hộ kinh doanh đồng bộ các giải pháp chuyển từ thuế khoán sang kê khai

Phân bón Bình Điền: Khẳng định vị thế thương hiệu quốc gia với tầm nhìn "Xanh hóa - Số hóa"

TP Huế sắp có khu liên hợp sản xuất pin hiện đại

Nhiều thương hiệu của Masan góp mặt trong Triển lãm thành tựu đất nước

Từ sứ mệnh phục vụ triệu dân đến khát vọng tập đoàn tài chính dẫn đầu

Agritrade và TikTok Shop khai mạc Tuần lễ Tự hào nông sản Việt
