Tăng cường phòng chống và quản lý bệnh thận mạn
Việt Nam có hơn 10 triệu người đang mắc bệnh thận mạn, chiếm khoảng 10,1% dân số
Hội thảo với sự tham dự của TS. Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh; TS. Nguyễn Khánh Phương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế; PGS.TS. Đặng Văn Chính, Viện trưởng Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện, Trung tâm thuộc Bộ Y tế lãnh đạo các hội chuyên ngành, bệnh viện tuyến trung ương và địa phương, cùng các chuyên gia Tiết niệu – Thận học, y tế công cộng và tổ chức quốc tế.
![]() |
| Quang cảnh Hội thảo |
Sự kiện tập trung thảo luận về sự cần thiết và các giải pháp dựa trên bằng chứng nhằm dự phòng, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận mạn một cách liên tục, tích hợp và hiệu quả.
Theo báo cáo chuyên đề trình bày tại hội thảo, bệnh thận mạn hiện ảnh hưởng tới hơn 840 triệu người trên toàn cầu và được dự báo sẽ trở thành nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ năm thế giới vào năm 2050 nếu không có các biện pháp can thiệp hiệu quả.
Đáng chú ý, tháng 5/2025, Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 78 đã chính thức công nhận bệnh thận mạn là bệnh không lây nhiễm ưu tiên toàn cầu, đặt ngang hàng với tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnh hô hấp mạn tính, đồng thời kêu gọi các quốc gia tích hợp phòng ngừa, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận vào chính sách y tế quốc gia .
Tại Việt Nam, các số liệu trong báo cáo cho thấy hơn 10 triệu người đang mắc bệnh thận mạn, chiếm khoảng 10,1% dân số và tương đương 12,8% dân số trưởng thành. Đáng lo ngại, bệnh thận mạn hiện đã vươn lên đứng thứ 8 trong số các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong.
Tuy nhiên, do bệnh tiến triển âm thầm ở giai đoạn sớm, trên 90% người mắc không biết mình bị bệnh, trong khi mỗi năm chỉ có khoảng 8.000 trường hợp được tầm soát và phát hiện sớm, dẫn đến bỏ lỡ “thời gian vàng” trong điều trị .
Báo cáo cũng làm rõ gánh nặng điều trị ở giai đoạn cuối. Năm 2023, Việt Nam ước tính có khoảng 46.000 người bệnh đã tiến triển đến giai đoạn cuối cần lọc máu, với tỷ lệ 501 người/1 triệu dân, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (2.200 người/triệu dân) hay Malaysia (1.800 người/triệu dân).
Trong khi đó, cả nước hiện mới chỉ có khoảng 7.000 máy lọc máu, đang phải phục vụ cho khoảng 42.000 người bệnh. Đáng chú ý, 50% bệnh nhân chạy thận tử vong trong vòng 5 năm, phản ánh hiệu quả điều trị hạn chế khi bệnh đã được phát hiện muộn .
Theo khảo sát về Thực trạng chẩn đoán, theo dõi và tầm soát bệnh thận mạn (BTM) tại Việt Nam được công bố tại Hội nghị Tiết niệu – Thận học toàn quốc 8/2025 của Hội VUNA, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ cao được tiến hành đủ xét nghiệm chẩn đoán, còn ở mức thấp; hơn một phần ba cơ sở chỉ thực hiện đầy đủ cho dưới 25% bệnh nhân, trong khi chỉ khoảng một phần tư cơ sở đạt tỷ lệ từ 75% bệnh nhân trở lên.
Về tần suất tầm soát, đa số xét nghiệm chỉ được thực hiện một lần mỗi năm, một tỷ lệ nhỏ được thực hiện 2–3 lần mỗi năm, và vẫn còn một bộ phận đáng kể thực hiện xét nghiệm không định kỳ hoặc mang tính ngẫu nhiên dẫn đến tỷ lệ bỏ sót chẩn đoán còn cao.
Điều trị bệnh thận mạn tại Việt Nam hiện còn nhiều thách thức khi số bệnh nhân ngày càng tăng, đa số được phát hiện muộn ở giai đoạn 3–5 với nhiều biến chứng tim mạch, thiếu máu, rối loạn điện giải và phải điều trị thay thế thận.
Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn năm 2024, nhấn mạnh vai trò phát hiện sớm tại tuyến cơ sở và sử dụng sớm các nhóm thuốc có chứng cứ bảo vệ thận nhằm làm chậm tiến triển và giảm biến cố tim mạch–thận.
Ở giai đoạn muộn, người bệnh phải đối mặt với gánh nặng lọc máu hoặc ghép thận, nguy cơ biến chứng cao và chi phí điều trị vượt xa khả năng chi trả của nhiều hộ gia đình.
Về kinh tế, các chuyên gia tại hội thảo nhấn mạnh bệnh thận mạn gây áp lực rất lớn cho người bệnh và hệ thống y tế. Chi phí điều trị lọc máu chu kỳ trung bình dao động từ 9,6–22,5 triệu đồng mỗi tháng, tương đương 6–7 lần mức lương tối thiểu.
Tổng chi phí điều trị trực tiếp cho một bệnh nhân chạy thận nhân tạo ước khoảng 130 triệu đồng mỗi năm, trong đó riêng chi phí chạy thận chiếm gần 60%. Với các hộ gia đình cận nghèo, phần chi phí tự chi trả có thể lên tới 80% thu nhập, đẩy nhiều gia đình vào nguy cơ kiệt quệ tài chính.
Xu hướng trẻ hóa bệnh thận mạn
Một nội dung mới được nhấn mạnh tại hội thảo là xu hướng trẻ hóa bệnh thận mạn. Theo báo cáo, trong vòng 5 năm qua, tỷ lệ bệnh nhân trẻ bị suy thận giai đoạn cuối cần chạy thận đã tăng từ 5% lên khoảng 10%, đặc biệt phổ biến ở nam giới làm việc văn phòng.
Nhiều cơ sở y tế ghi nhận các trường hợp bệnh nhân dưới 30 tuổi đã bước vào giai đoạn 4–5 của bệnh, đặt ra cảnh báo nghiêm trọng về lối sống, thói quen sinh hoạt và việc sử dụng thuốc không hợp lý trong cộng đồng .
Bên cạnh gánh nặng y tế và kinh tế, nghiên cứu IMPACT-CKD được trình bày tại hội thảo cho thấy điều trị bệnh thận mạn, đặc biệt ở giai đoạn cuối, còn tạo ra tác động môi trường đáng kể.
Mỗi bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn 5 có thể phát thải lượng khí nhà kính tương đương một chuyến bay khứ hồi Hà Nội – New York mỗi năm, và tổng phát thải từ điều trị nhóm bệnh nhân này tại Việt Nam ước khoảng 0,5 megatonnes CO₂e mỗi năm.
Điều này cho thấy lợi ích kép của việc phát hiện sớm và làm chậm tiến triển bệnh, không chỉ giảm chi phí mà còn góp phần giảm phát thải cho ngành y tế.
![]() |
| TS. Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) phát biểu tại Hội thảo |
Từ các số liệu nêu trên, hội thảo thống nhất rằng việc đẩy mạnh sàng lọc chủ động tại tuyến cơ sở, tập trung vào nhóm nguy cơ cao như người tăng huyết áp, đái tháo đường, người cao tuổi và người có tiền sử bệnh tim mạch, là giải pháp then chốt.
Các chuyên gia khẳng định, nếu bệnh thận mạn được phát hiện và quản lý hiệu quả ngay từ giai đoạn sớm, chi phí điều trị sẽ thấp hơn nhiều lần so với điều trị giai đoạn cuối, đồng thời giúp giảm mạnh tỷ lệ tử vong và gánh nặng cho xã hội.
Kết luận hội thảo, các đại biểu cho rằng việc bổ sung bệnh thận mạn vào nhóm ưu tiên trong các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn tới là yêu cầu cấp thiết.
Các số liệu từ báo cáo đã cung cấp cơ sở khoa học rõ ràng, khẳng định rằng đầu tư cho dự phòng và phát hiện sớm bệnh thận mạn chính là giải pháp bền vững, hiệu quả và lâu dài cho sức khỏe cộng đồng Việt Nam.
Tin liên quan
Cùng chuyên mục
Đọc thêm
Tin Y tế
Xử trí thành công ca song thai một bánh rau, một buồng ối
Tin Y tế
Chủ động phòng bệnh xương khớp trong mùa lạnh
Tin Y tế
Công tác phòng chống dịch phải được triển khai chủ động, quyết liệt và hiệu quả
Nhịp sống phương Nam
Mô hình “Cơ sở 2” và bài toán phát triển y tế TP Hồ Chí Minh
Tin Y tế
Khuyến cáo người dân phòng chống sốt xuất huyết, tay chân miệng
Tin Y tế
Diễn tập công tác y tế phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Tin Y tế
Cấp cứu 3 bệnh nhân Ninh Bình ngộ độc do ăn hạt củ đậu
Tin Y tế
Ca mắc sốt xuất huyết có chiều hướng "hạ nhiệt"
Tin Y tế
Đáp ứng y tế phục vụ Đại hội XIV của Đảng
Nhịp sống phương Nam





